hành vi đe doạ người khác

+ Có hành vi làm cho người bị đe doạ biết được khả năng tính mạng của họ sẽ bị xâm phạm (bị giết chết). Ví dụ: Đe doạ người khác nhiều lần bằng lời nói là sẽ giết chết họ. Hành vi này được thể hiện bằng trực tiếp (như bằng lời nói trước mặt, nói 3 bị cáo tại phiên toà bị truy tố về tội "Đe doạ giết người". Ảnh: TB. Sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện KSND huyện Vân Canh, người bào chữa và người bị hại, xét thấy bị hại là P.T.T.P đã được toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên toà không có lý do, Hội đồng xét xử quyết định Ngày 30/5 (theo giờ địa phương), một máy bay khác của hãng hàng không Ryanair đã phải thay đổi lộ trình và hạ cánh khẩn cấp xuống thủ đô Berlin (Đức) sau khi bị đe doạ đánh bom. Được biết, chuyến bay chở tổng cộng 160 người, đang trên đường di chuyển từ Dublin H5 Ffcredit. Tội đe doạ tính mạng người khác theo quy định của Bộ luật Hình sự được phân tích và chia sẻ thực tiễn xét xử qua bài viết sau của Luật sư Nguyễn Hồng Quân. LUẬT SƯ NGUYỄN HỒNG QUÂN LÀ LUẬT SƯ CHUYÊN GIẢI QUYẾT ÁN HÌNH SỰ, NHÀ ĐẤT. Với phương châm làm việc "chọn việc Đúng - Đáng - Đàng hoàng- Đặt Lợi Ích Khách Hàng Lên Hàng Đầu" kết hợp với bề dày kinh nghiệm trong việc tư vấn, tranh tụng, hỗ trợ pháp lý cho các khách hàng trong các vụ án hình sự, kinh tế lớn. Đe dọa tính mạng người khác là hành vi của một người bằng lời nói, hành động hoặc những thủ đoạn khác làm cho người khác lo sợ rằng mình có khả năng bị giết. Việc đe dọa được thực hiện nhằm khống chế ý chí của người bị đe dọa. Theo quy định tại Bộ luật Hình sự hiện hành, hành vi đe doa tính mạng người khác là hành vi khách quan được quy định tại Điều 133 về tội đe dọa giết người “Điều 133. Tội đe dọa giết người1. Người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năma Đối với 02 người trở lên;b Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;c Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;d Đối với người dưới 16 tuổi;đ Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác.”Theo quy định trên, các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội phạm của tội này như sau1. Chủ thể của tội đe doạ giết ngườiChủ thể của tội đe dọa giết người theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 Bộ luật Hình sự là các cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt đến độ tuổi luật định“Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.”Như vậy theo quy định trên, đối với tội đe dọa giết người, cá nhân từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi vi phạm.>> Thông tin hữu ích Top 10 Luật sư Hình sự nổi tiếng và uy tín tại Thành phố Hồ Chí 10 Luật sư Hình sự nổi tiếng và uy tín tại Hà Khách thể của tội đe doạ giết ngườiKhách thể của tội đe dọa giết người là tính mạng, quyền sống của con người. Mặc dù người phạm tội không có mục đích giết người khi thực hiện hành vi đe dọa, nhưng việc làm cho người bị đe dọa lo sợ và tin rằng mình sẽ bị giết cũng được xem là xâm phạm đến quyền sống của người Mặt khách quan của tội đe doạ giết ngườiHành vi khách quan của tội đe dọa giết người là hành vi làm cho người bị đe dọa lo sợ bằng các cách thức, phương tiện, thủ đoạn khác nhau như lời nói, hành động, ánh mắt,... Mục đích của người phạm tội khi thực hiện hành vi đe dọa là làm cho người bị đe dọa tin và lo sợ rằng mình có thể bị giết chứ không phải để thực hiện việc giết người. Hành vi đe dọa của người phạm tội phải làm cho người bị đe dọa tin rằng hành vi đe dọa đó sẽ được thực hiện nếu như người bị đe dọa không làm theo ý của người phạm tội. Đây là dấu hiệu đặc trưng của loại tội này. Chính vì mục đích làm cho người bị đe dọa tin rằng người phạm tội sẽ thực hiện hành vi giết người nên người phạm tội sẽ cố tình để cho người bị đe dọa nhìn thấy hoặc người khác nhìn thấy mà người phạm tội biết rằng người này sẽ nói lại cho người bị đe dọa biết việc mình đang thực hiện một số hành vi để chuẩn bị cho việc giết người như tìm công cụ, phương tiện để giết người. Nếu người phạm tội có hành vi đe doạ, nhưng hành vi đó chỉ là phương pháp để thực hiện một tội phạm khác, nhằm mục đích khác thì không phải là phạm tội đe doạ giết người. Đối với tội này, người bị đe doạ có thể lo sợ mình bị giết và cũng có thể lo sợ người thân của mình bị giết miễn là họ tin rằng hành vi đe doạ của người thực hiện hành vi phạm tội sẽ được thực hiện thì vẫn truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó chỉ cần một người thực hiện hành vi phạm tội và hành vi đó thỏa mãn cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chứ không bắt buộc phải có hậu quả xảy ra.>> Đặt câu hỏi MIỄN PHÍ với Luật sư toàn Mặt chủ quan của tội đe doạ giết ngườiTội đe dọa giết người được thực hiện do cố ý, tức là người thực hiện hành vi phạm tội biết hành vi đe dọa giết người là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện, đồng thời mong muốn người bị đe dọa sẽ lo sợ và tin rằng mình có thể sẽ bị giết. Do đó tội này được thực hiện do cố ý trực cần tư vấn về pháp luật về Hình sự, bạn có thể liên hệ Luật sư Nguyễn Hồng Quân theo thông tin sauVăn phòng 1 Số 168 đường Láng, phường Thịnh Quang, quận Đống Đa; Hà phòng 2 Số 102 Nguỵ Như Kon Tum, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà thoại 0989 815 198 Luật sư QuânEmail BỊ ÔNG ANH RỂ ĐE DOẠ TÍNH MẠNG THÌ PHẢI LÀM SAO?Xin chào luật sư. Tôi đang mang bầu 5 tháng, hôm 14/9/2018 tôi có sảy ra cãi nhau với ông anh rể chị gái tôi đã đâm đơn ly hôn anh rể tôi từ hồi tháng đầu tháng 8, do bị ông đấy đánh. Trong khi cãi nhau ông đấy có đe dọa tôi và hôm nay lúc 7h30 sáng ngày 17/9/2018 tôi thấy ông anh rể tôi có đi qua công ty tôi và theo lịch trình thì ông đấy chưa bao giờ đi qua công ty tôi. Theo tôi nghĩ ông ta đang thăm dò lịch trình đi lại của tôi để hành động. Thưa luật sư với trường hợp này tôi nên làm thế nào ạ?Rất mong luật sư tư vấn và giúp đỡ vì nếu tôi có 1 mình thì không sao nhưng tôi đang mang thai nên rất lo Luật sư ĐOÀN VĂN NÊN tư vấn trường hợp bị anh rể đe doạ tính mạngChào bạn, chúng tôi xin phép đưa ra tư vấn dựa trên những dữ liệu bạn đã cung cấp như sauNgày 14/09/2018, bạn và anh rể đã xảy ra mâu thuẫn, dẫn tới việc anh rể của bạn có những lời lẽ đe dọa đến tính mạng của bạn. Những lời lẽ đó có bị coi là đe dọa giết người hay không khi nội dung thể hiện việc sẽ tước đoạt tính mạng của bạn. Nội dung có thể không đề cập đến cách thức sẽ giết người như thế nào hoặc được mô tả cụ thể như sẽ đốt nhà, gây tai nạn giao thông, bắn, đâm… song làm bạn bị đe dọa lo sợ rằng việc này sẽ được thực đó, việc dùng lời lẽ mang tính đe dọa giết người kết hợp cùng các hành động khác nhằm làm nạn nhân biết việc này có thể xảy thì người nhắn tin sẽ bị khép vào tội Đe dọa giết người, theo quy định tại Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 2015. Nếu có hành vi đe dọa giết người nhưng người bị đe dọa chưa thực sự lo lắng hậu quả sẽ xảy ra thì không cấu thành tội phạm dùng lời lẽ không mang tính đe dọa giết người mà chỉ là những lời đe dọa thông thường nhằm ép buộc người khác phải thực hiện các yêu sách thì hành vi này không phạm tội hình sự nhưng bị xử phạt hành chính. Điều này được quy định tại Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP về quy phạm trật tự công cộng như sau "1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ đồng đến đồng đối với một trong những hành vi sau đâya Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;\"Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bạn cần làm đơn tố cáo hành vi vi phạm của kẻ đe dọa tới cơ quan điều tra công an quận, trường hợp có đủ cơ sở xử lý về hình sự, cơ quan điều tra sẽ khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can đối với người vi phạm. Nếu vi phạm có dấu hiệu phạm tội hình sự nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, cơ quan công an ra quyết định xử phạt hành chính đồng thời áp dụng một số biện pháp khác theo quy định của pháp luật buộc người vi phạm chấm dứt hành nhiên ,để có chứng cứ nộp kèm theo đơn tố cáo, bạn cần cung cấp cho cơ quan điều tra các chứng cứ cho rằng anh rể bạn làm khủng bố tinh thần bạn , các biên bản làm việc của công an xã, phường về việc kẻ đe dọa. Ngoài ra, bạn có thể cung cấp cho cơ quan điều tra lời khai của các nhân chứng để cơ quan điều tra có thêm thông tin khi giải quyết vụ Luật sư NGUYỄN THANH NGỌC tư vấn trường hợp bị anh rể đe doạ tính mạng Chào bạn Nguyễn Thị Thu HươngVề nội dung câu hỏi của bạn, tôi xin trả lời như sau Bạn cho rằng anh rể của bạn có hành vi đe dọa tính mạng của bạn , và còn có hành vi theo dõi đến chổ làm của bạn. Sự việc này không có đủ căn cứ để chứng minh cho anh rể của bạn có hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của bạn yên tâm có tinh thần tốt trong thời gian mang thai, thì bạn nên đến công an phường hoặcxã nơi ở của bạn và nơi ở của anh rể bạn trình báo sự việc kèm theo nội dung yêu hành vi anh rể của bạn có hành vi đe dọa công an có hình thức xử lý phù hợpThân Luật sư TRẦN ĐÌNH DŨNG tư vấn trường hợp bị anh rể đe doạ tính mạngBạn Nguyễn Thị Thu Hương mến!Như trên bạn trình bày, anh rể bạn chỉ ghé ngang công ty nơi bạn làm việc. Như vậy thì anh rể bạn chưa có hành vi gì vi phạm pháp luật cả. Nên các cơ quan bảo vệ pháp luật cũng không có căn cứ để can nhiên do có mâu thuẫn gia đình cãi vã nhau và bản thân đang mang bầu nên bạn có cảm giác lo có thể viết \"Đơn trình báo\" gửi công an phường xã, thị trấn nơi bạn làm việc. Trường hợp này cơ quan công an chỉ ghi nhận sự việc bạn nghi ngờ mà thôi. Sau đó nếu anh rể bạn có hành vi có dấu hiệu đe dọa bạn như chặn đường bạn, tới công ty bạn có lời lẽ đe dọa... thì CA mới can thiệp bằng cách mời về trụ sợ để làm rõ và xử lý tùy vào mức độ hành dung đơn bạn cần phải trình bày hết các mâu thuẫn và sự nghi ngờ, lo sợ của nên đến bác sĩ để được hướng dẫn trấn an thêm về sức khỏe vì cảm giác lo sợ sẽ không tốt cho thai bạn khỏe và an lành!Bạn vẫn còn thắc mắc? Hơn 400 Luật sư chuyên về Hình sự trên iLAW đang sẵn sàng hỗ trợ bạn. Hãy chọn ngay một Luật sư gần bạn, và liên hệ với Luật sư đó để được tư vấn miễn TIN LIÊN QUANDanh bạ Luật sư Hình sựThi hành án hình sựHoãn thi hành ánThủ tục giám định thương tật Thế nào là hăm dọa, đe dọa người khác? Xử lý hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi hăm dọa, đe dọa người khác?Mỗi người đều có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm, vì thế mà không ai có quyền xâm phạm đến các quyền cơ bản này của con người. Thường thấy trong cuộc sống hằng ngày việc giữa các mối quan hệ giữa người với người thường xảy ra bất đồng, mâu thuẫn, nhiều trường hợp các cá nhân thực hiện hành vi hăm dọa, đe dọa người khác. Vậy câu hỏi đặt ra là hăm dọa, đe dọa người khác có phải là hành vi vi phạm pháp luật. Bài viết dưới đây của Luật Dương Gia sẽ đi vào tìm hiểu những quy định của pháp luật về vấn đề này. Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài Mục lục bài viết 1 1. Thế nào là hăm dọa, đe dọa người khác? 2 2. Hành vi hăm dọa, đe dọa người khác bị xử lý hành chính như thế nào? 3 3. Trách nhiệm hình sự đối với hăm dọa, đe dọa người khác 1. Thế nào là hăm dọa, đe dọa người khác? Để làm rõ về khái niệm hăm dọa, đe dọa người khác, ta có thể nhìn lại những hành vi thường xảy ra trong thực tế cuộc sống. Khi các cá nhân có mâu thuẫn với nhau, nhiều trường hợp hòa giải, thiện chí để giải quyết vấn đề nhưng cũng có những trường hợp có những cá nhân không xử lý theo pháp luật mà thực hiện việc đe dọa người khác, nhiều trường hợp có những người vô cớ đe dọa người khác. Vậy thế nào là hăm dọa, hành vi như thế nào được coi là hăm dọa? Hăm dọa hay đe dọa đều được hiểu giống nhau là hành vi dùng lời nói hoặc hành động để uy hiếp tinh thần người khác, ép buộc người này phải làm những việc nhất định mang lại lợi ích cho mình hoặc đẩy nhanh việc người này phải thực hiện nghĩa vụ cho mình, nếu người này không thực hiện thì sẽ phải chịu những hậu quả nhất định. Đe dọa thường thấy là đe dọa về tinh thần và thể chất đối với người bị đe dọa, người thực hiện hành vi đe dọa sẽ đe dọa nhiều hình thức khác nhau. Đe dọa có thể bao gồm dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, đe dọa tố giác, đe dọa hủy hoại tài sản… Những hình thức đe dọa có thể được người đe dọa thực hiện là đe dọa trực tiếp, đe dọa qua thư, đe dọa qua điện thoại…Đối tượng của đe dọa có thể là hành vi đe dọa đòi tài sản, đe dọa thực hiện các hành vi trái pháp luật, đe dọa tống tiền, đe dọa để được giao cấu người khác… 2. Hành vi hăm dọa, đe dọa người khác bị xử lý hành chính như thế nào? Như đã đề cập ở trên, không ai có quyền xâm phạm đến thân thể, danh dự và nhân phẩm của người khác. Điều này đồng nghĩa với việc đe dọa đến người khác là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, phụ thuộc vào hành vi đe dọa người khác ở mức độ nào mà người thực hiện hành vi đe dọa sẽ bị xử lý ở mức độ tương ứng với hành vi và hậu quả gây ra. Trường hợp hành vi đe dọa người khác chưa đến mức phạm tội thì có thể sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình. Theo đó tại Điểm a khoản 1 điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình quy định như sau “ 1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ đồng đến đồng đối với một trong những hành vi sau đây a Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;” Như vậy, đối với các hành vi có tính chất thô bạo, đụng chạm đến thân thể người khác ví dụ xô đẩy, tát, nắm giật tóc… hay có các lời nói bỡn cợt, xúc phạm danh dự nhân phẩm trêu ghẹo, nhục mạ, có những lời nói vu khống, khiêu khích tinh thần của người khác, nói những lời sai sự thật, vu khống nhằm thực hiện mục đích xấu với người khác thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính. Mức xử phạt đối với những hành vi vi phạm này là phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ đồng đến đồng. Lưu ý phân biệt được các hành vi vi phạm hành chính và tội phạm Dựa vào mức độ của hành vi để phân biệt hành vi đe dọa là hành vi vi phạm hành chính hay là hành vi phạm tội theo quy định của Bộ Luật Hình sự 2015. Như đã nói, hành vi đe dọa để bị xử phạt vi phạm hành chính chỉ dừng lại ở những hành vi có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác, chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng, chưa có những dấu hiệu để cấu thành tội phạm thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính. Còn đối với những hành vi gây ra hậu quả nghiêm trọng hay có tính chất của tội phạm thì sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự. 3. Trách nhiệm hình sự đối với hăm dọa, đe dọa người khác Hành vi hăm dọa, đe dọa người khác nếu gây ra hậu quả cho người khác nếu có đủ các dấu hiệu tội phạm thì sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự. Các hành vi đe dọa, hăm dọa được coi là tội phạm khi các hành vi này được xem là nguy hiểm cho xã hội. Khái niệm tội phạm được quy định tại Điều 8 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Theo quy định tại Điều 8 Bộ Luật hình sự năm 2015 thì khái niệm tội phạm được hiểu là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự. Hiểu rõ hơn thì hành vi nguy hiểm xã hội là những hành vi trái với quy định pháp luật, khi thực hiện những hành vi này, người thực hiện hành vi có thể gây nguy hại cho người khác và cho xã hội. Thực hiện hành vi nguy hiểm là yếu tố đầu tiên, tuy nhiên để có thể truy cứu trách nhiệm hình sự thì những người thực hiện các hành vi này phải do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện. Những hành vi phạm tội được quy định đương nhiên được thực hiện bởi lỗi cố ý hoặc vô ý tùy từng tội khác nhau. Những hành vi phạm tội này xâm phạm đến những mối quan hệ này được pháp luật công nhận và bảo vệ, cụ thể “xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa” Điều 8 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Như đã phân tích ở mục trên, những hành vi chưa có dấu hiệu phạm tội thì sẽ bị xử lý trách nhiệm hình sự còn những hành vi chưa có tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác phạt cảnh cáo, phạt tiền…. Để xác định hành vi đe dọa người khác có phải là hành vi phạm tội hay không thì cần căn cứ vào các cấu thành tội phạm của hành vi, để xác định tội phạm thì sẽ bao gồm khách thể của tội phạm, mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể thực hiện đối với hành vi phạm tội. Về hành vi đe dọa người khác, pháp luật nước ta có quy định tại điều 133 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 về hành vi vi đe dọa giết người. “ 1. Người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm a Đối với 02 người trở lên; b Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; c Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân; d Đối với người dưới 16 tuổi; đ Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác.” Theo quy định tại điều luật trên thì đe dọa giết người là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực pháp luật thực hiện đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, được thực hiện bởi lỗi cố ý và hành vi này không xét đến hậu quả đã xảy ra hay chưa. – Về khách thể của tội đe dọa giết người là đối tượng mà hành vi phạm tội hướng đến, chính là tính mạng của công dân. – Về mặt khách quan của tội đe dọa giết người người thực hiện hành vi phạm tội đe dọa người khác, làm cho người đó biết được và nhận thấy được rằng tính mạng của họ có nguy cơ bị xâm phạm. – Về chủ thể của tội đe dọa giết người là người có năng lực trách nhiệm hình sự tức đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. – Về mặt chủ quan của tội đe dọa giết người Người thực hiện hành vi phạm tội đã thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý. Cụ thể người này dùng các phương pháp, thủ đoạn thực hiện hành vi đe dọa như đe dọa bằng lời nói, bằng hành động, dùng các hung khí để de dọa… Khi thực hiện hành vi đe dọa giết người và đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì người thực hiện hành vi này sẽ phải chịu khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, nếu như có các tình tiết tăng nặng khác thì có thể chịu hình phạt 02 đến 07 năm tù. Như vậy, hành vi đe dọa người khác là vi phạm pháp luật, phụ thuộc vào mức độ của hành vi mà sẽ bị xử lý hành chính hoặc chịu trách nhiệm hình sự. Nạn nhân bị người khác hăm dọa, đe dọa có thể bảo vệ mình bằng cách trình báo sự việc lên cơ quan công an địa phương để cơ quan công an tiến hành điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người dân. Tội đe doạ giết người theo Điều 133 Bộ luật Hình sự Về vấn đề này, THƯ VIỆN PHÁP LUẬT giải đáp như sau 1. Đe dọa giết người là gì? Đe dọa giết người có thể được hiểu là hành vi làm cho người khác lo sợ rằng người đe dọa sẽ có hành vi giết người. 2. Tội đe doạ giết người theo Điều 133 Bộ luật Hình sự Tại Điều 133 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tội đe doạ giết người như sau - Người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. - Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm + Đối với 02 người trở lên; + Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; + Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân; + Đối với người dưới 16 tuổi; + Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác. 3. Quy định về việc áp dụng tội đe doạ giết người theo Điều 133 Bộ luật Hình sự Việc áp dụng tội đe doạ giết người có thể tham khảo tại Chương 2 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ ngày 29/11/1986 quy định như sau - Tội đe doạ giết người phải có hai dấu hiệu bắt buộc có hành vi đe dọa giết người; có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện. - Phải xác định hành vi đe dọa giết người là có thật như nói trực tiếp công khai là sẽ giết, giơ phương tiện như súng, dao đe dọa và phải xem xét “căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ…”, một cách khách quan, toàn diện như + Thời gian; + Hoàn cảnh; + Địa điểm diễn biến; + Nguyên nhân sâu xa nếu có và trực tiếp của sự việc; + Mối tương quan giữa bên đe dọa và bên bị đe dọa về thể lực, tuổi đời, trình độ Nếu thông thường ai cũng phải lo lắng là sự đe dọa về thể lực, tuổi đời, trình độ Nếu thông thường ai cũng phải lo lắng là sự đe dọa sẽ được thực hiện, thì đó là trường hợp lo lắng có căn cứ. Nếu cùng với hành vi đe dọa, còn có hành vi chuẩn bị giết người bị đe dọa như mài dao, lau súng đạn… thì xử lý các hành vi đó về tội giết người ở giai đoạn chuẩn bị. Nếu sau khi đe dọa đã giết người bị đe dọa, thì xử lý về tội giết người. Nếu đe dọa giết người để chống người thi hành công vụ, thì xử lý về tội chống người thi hành công vụ mà không áp dụng tội đe doạ giết người. 4. Cấu thành tội phạm của tội đe doạ giết người theo Điều 133 Bộ luật Hình sự * Về mặt khách quan của tội phạm - Về hành vi Người phạm tội đã thực hiện hành vi đe dọa giết người bị hại trái pháp luật. Hành vi đe dọa này có thể thực hiện bằng lời nói, hành động, cử chỉ... không nhằm mục đích giết người bị hại mà chỉ nhằm làm người bị hại phải lo lắng, sợ hãi, hình thành trong tư tưởng rằng người phạm tội sẽ thực hiện hành vi giết người bị hại như đã đe dọa. - Về mặt hậu quả Gây nên tâm lý lo lắng, sợ hãi cho người bị hại; người bị hại thật sự tin rằng hành vi đe dọa sẽ được người phạm tội thực hiện. * Về mặt chủ quan của tội phạm - Về lỗi Người thực hiện hành vi do lỗi vô ý trực tiếp. Theo đó, người thực hiện hành vi phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là đe dọa người bị hại, làm cho người bị hại lo sợ có thể dẫn đến hậu quả như lời đe dọa, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả đó xảy ra; - Mục đích của hành vi phạm tội Nhằm đe dọa người bị hại để người bị hại làm hoặc không làm một việc gì đó. * Khách thể của tội phạm Tội phạm xâm phạm đến mối quan hệ liên quan đến quyền được sống của con người được pháp luật bảo vệ. * Chủ thể của tội phạm - Người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự đầy đủ. 5. Đe dọa giết người trên mạng xã hội bị xử lý thế nào? Nếu hành vi đe dọa giết người trên mạng xã hội chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể bị xử phạt hành chính theo điểm g khoản 3 Điều 102 Nghị định 15/2020/NĐ-CP quy định như sau Phạt tiền từ đồng đến đồng đối với hành vi cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác. Lưu ý Mức phạt trên áp dụng đối với tổ chức, nếu cá nhân có hành vi vi phạm tương tự thì mức phạt bằng ½. Khoản 3 Điều 4 Nghị định 15/2020/NĐ-CP Quốc Đạt Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email info

hành vi đe doạ người khác